Ngày Giỗ tổ Hùng Vương hay Lễ hội Đền Hùng từ lâu đã là một trong những ngày Quốc lễ của Việt Nam. Đây là ngày hội truyền thống của dân tộc Việt để tưởng nhớ công lao dựng nước của các Vua Hùng, thủy tổ của dân tộc Việt Nam cũng như để thể thiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, truyền thống đoàn kết, gắn bó của mọi người dân Việt. Nghi lễ hàng năm được tổ chức vào ngày mồng mười tháng ba âm lịch tại quần thể đi tích Đền Hùng. Từ hàng ngàn năm nay thì Đền Hùng - nơi cội nguồn của dân tộc, của đất nước luôn là biểu tượng tôn kính, linh nghiêm quy tụ và gắn bó với dân tộc Việt Nam.
THỦY TỔ CỦA DÂN TỘC VIỆT
Theo truyền thuyết kể lại Lạc Long Quân - con trai của Kinh Dương Vương Lộc Tục lấy nàng Âu Cơ - con gái Vua Đế Lai rồi sinh ra một bọc trăm trứng, nở thành trăm người con trai. 50 người con theo mẹ lên núi, 50 người theo cha xuống biển lập nghiệp. Người con cả theo mẹ lên vùng đất Phong Châu (nay là Phú Thọ) lập ra nước Văn Lang và được tôn làm Vua Hùng. Văn Lang là nhà nước đầu tiên trong lịch sử của người Việt, được cai trị bởi 18 đời vua. Các vua Hùng đều đã dạy dân trồng lúa nước và chọn núi Nghĩa Lĩnh, ngọn núi cao nhất vùng để thực hiện những nghi lễ theo tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp như thờ thần lúa, thần mặt trời để cầu mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, vạn vật sinh sôi, nảy nở. Nhằm ghi nhớ, tưởng niệm công đức của các vị Vua Hùng, nhân dân đã lập đền thờ tưởng niệm (khu di tích lịch sử đền Hùng) mà trung tâm là núi Nghĩa Lĩnh.
NGÀY GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG QUA CÁC TRIỀU ĐẠI
Từ xa xưa Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương đã có vị thế đặc biệt trong tâm thức của người Việt. Thời Hùng Vương chỉ tồn tại qua 18 đời, đến đời Hùng Vương thứ 18 đã nhường ngôi cho Thục Phán. Thục Phán lên ngôi xưng là An Dương Vương, đổi tên nước thành Âu Lạc và dời đô về Cổ Loa. Để tri ân những người đã có công dựng nước, An Dương Vương đã lập miếu thờ các vua Hùng tại núi Nghĩa Lĩnh, nơi các vua Hùng thường lên đây làm lễ tế trời đất. Tại đỉnh núi Nghĩa Lĩnh, An Dương Vương còn dựng cột đá thề, nguyện bảo vệ giang sơn mà các vua Hùng trao lại và đời đời hương khói tổ tiên. Các triều đại quân chủ và phong kiến Việt Nam sau đó đã quản lý Đền Hùng theo cách giao thẳng cho dân sở tại trông nom, sửa chữa, cúng bái, làm Giỗ Tổ vào ngày 10 tháng 3 âm lịch; đổi lại dân địa phương được triều đình miễn cho những khoản thuế ruộng cùng sưu dịch và sung vào lính. Bản ngọc phả viết thời Trần, năm 1470 đời vua Lê Thánh Tông và đời vua Lê Kính Tông năm 1601 sao chép đóng dấu kiềm để tại Đền Hùng, nói rằng: “...Từ nhà Triệu, nhà Đinh, nhà Lê, nhà Lý, nhà Trần đến triều đại ta bây giờ là Hồng Đức Hậu Lê vẫn cùng hương khói trong ngôi đền ở làng Trung Nghĩa. Những ruộng đất sưu thuế từ xưa để lại dùng vào việc cúng tế vẫn không thay đổi...”
Sang thế kỷ 20, năm 1917 triều vua Khải Định, Bộ Lễ chính thức gửi công văn ghi ngày 25 Tháng 7 phái quan hàng tỉnh của tỉnh Phú Thọ lúc bấy giờ là tuần phủ Lê Trung Ngọc lấy ngày mồng 10 tháng 3 âm lịch thì cử hành "Quốc tế" hàng năm, tức cho các quan phải mặc phẩm phục lên đền Hùng thay mặt triều đình Huế cúng tế. Kể từ đây, ngày Giỗ Tổ Hùng Vương ngày 10 tháng 3 âm lịch hàng năm được chính thức hóa bằng luật pháp.
NGÀY GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945 ĐẾN NAY
Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, nhằm kế tục truyền thống tốt đẹp của cha ông, nêu cao đạo lý uống nước nhớ nguồn, tình đoàn kết, gắn bó dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh của Chủ Tịch nước số 22/SL - CTN ngày 18/2/1946 cho công chức nghỉ ngày 10 tháng 3 âm lịch hàng năm để tham gia tổ chức các hoạt động Giỗ Tổ Hùng Vương - hướng về cội nguồn dân tộc. Tiếp sau đó, Người đã hai lần về thăm đền Hùng vào ngày 19/9/1954 và ngày 19/8/1962, và tại đây trong buổi nói chuyện với các chiến sy Đại đoàn quân tiên phong – Đại đoàn 308, Người đã giảng giải: “Đền Hùng thờ các vua Hùng. Hùng Vương là người sáng lập ra nước ta, là Tổ tiên của dân tộc ta”. Tiếp theo Người nói: “Ngày xưa, các vua Hùng đã có công dựng nước, ngày nay Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.
Năm 1995, ngày Giỗ Tổ Hùng Vương đã được Ban Bí thư ghi trong thông báo là ngày lễ lớn trong năm. Ngành Văn hóa thông tin - thể thao phối hợp với các ngành chức năng đã tổ chức lễ hội trong thời gian 10 ngày (từ 1/3 đến 10/3 âm lịch)
Ngày 02/4/2007, Quốc Hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã phê chuẩn sửa đổi, bổ sung Điều 73 của Luật Lao động cho người lao động được nghỉ làm việc, hưởng nguyên lương ngày Giỗ Tổ Hùng Vương (10/3 âm lịch). Kể từ đây, ngày 10/3 âm lịch hàng năm đã trở thành ngày lễ lớn - QUỐC LỄ mang ý nghĩa bản sắc văn hóa dân tộc.
Ngày 6/12/2012, UNESCO đã chính thức công nhận “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ” là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại
và đã đạt được các tiêu chí bao gồm: Tục lệ thờ cúng Hùng Vương thể hiện lòng tôn kính đối với tổ tiên, làm tăng thêm lòng tự hào và đoàn kết dân tộc; Tín ngưỡng này khi được công nhận sẽ khích lệ nhận thức về lòng biết ơn tổ tiên ở nhiều quốc gia trên thế giới cũng như nhận thức chung về tôn trọng đa dạng văn hóa trong cộng đồng.
Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng là nét văn hóa đặc biệt, linh thiêng trong tâm hồn mỗi người dân Việt ở trong hay ngoài nước. Đây là dịp đặc biệt để giáo dục đạo lý uống nước nhớ nguồn của dân tộc, lòng biết ơn sâu sắc đối với các vị vua Hùng đã có công dựng nước; giáo dục tình đoàn kết, gắn bó của dân tộc Việt Nam trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, thông qua đó nhân dân Việt Nam có thể quảng bá ra thế giới về một hình ảnh Việt Nam ngàn năm văn hiến, về một Di sản vô sản vô cùng giá trị, độc đáo đã ăn sâu vào tâm hồn người Việt.

0 nhận xét:
Đăng nhận xét